Cách Chế Biến Vảy Tê Tê / Top 13 Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 9/2023 # Top Trend | Morningstarinternationalschool.edu.vn

Vảy Tê Tê Chữa Bệnh Gì

Hiện nay tê tê bị săn bắt rất nhiều do vảy của nó – thứ được xem là “thần dược” trị bách bệnh. Vậy điều này liệu có đúng không? Vảy tê tê chữa bệnh gì? Có tác dụng gì ? Hãy cùng tìm câu trả lời nhé

Vảy tê tê chữa bệnh gì? Có tác dụng gì ?

Vảy tê tê có chứa stearic acid, cholesterol, N-butyl tricosylamide, cyclo (L-seryl-L-tyrosyl), cyclo (D-seryl-L-tyrosyl). Ngoài ra nó có 18 loại vi chất khác như kẽm, natri, titan, canxi , photpho, sắt, mangan, crôm, magiê, niken,….

Tuy nhiên chủ yếu chúng được cấu tạo từ keratin. Do đó vảy tê tê chỉ có một số công dụng nhất định. Chứ không phải thần dược cho bách bệnh.

Chúng ta cùng xem cụ thể đó là công dụng gì nhé.

Công dụng của vảy tê tê trong điều chị viêm xoang là không có

Người bị chứng viêm xoang được mách rằng phải dùng vảy tê tê thì mới trị được dứt điểm. Tuy nhiên hiện nay chỉ có Đông y mới ghi nhận một số công dụng của vảy tê tê dựa trên các đặc tính vốn có của nó. Trong đó không có tài liệu nào đề cập đến công dụng chữa bệnh đường hô hấp hay viêm xoang. Y học hiện đại lại càng không. Bởi đến nay thì vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào chỉ ra vảy tê tê được dùng như một nguyên liệu chữa trị bệnh của y học hiện đại. Do đó các bài thuốc chữa xoang sử dụng vảy tê tê là không có căn cứ.

Vảy tê tê – thứ được mệnh danh “thần dược trị bách bệnh”

Vảy tê tê không có tác dụng tăng cường sinh lực

Tương tự, vảy tê tê cũng được truyền miệng là có thể tăng cường sinh lực cho phái mạnh. Về bản chất thì vảy tê tê được cấu tạo chủ yếu từ keratin. Nghĩa là chúng khá giống với móng tay của con người. Dựa trên các đặc tính thì chúng chỉ có một số công dụng cho một số bệnh đặc biệt. Vảy tê tê hoàn toàn không liên quan đến việc thúc đẩy ham muốn và sinh lực cho phái mạnh.

Chữa ung thư thì càng không

Ngoài ra thì vảy tê tê là “thần dược” chữa ung thư lại càng không có căn cứ. Vảy tê tê kết hợp cùng một số loại thuốc đông y khác sẽ có tác dụng giảm sưng, tiêu viêm, làm nhẹ đi tình trạng mụn, ung nhọt trên da. Nhưng phải lưu ý rằng chúng chỉ có tác dụng cho những vùng sưng đau, ung nhọt trên bề mặt da. Và nó hoàn toàn không có tác dụng gì với bệnh ung thư như nhiều người lầm tưởng.

Vảy tê tê có thể có tác dụng lợi sữa và chữa tắc sữa

Nhiều người truyền tai nhau câu chuyện vảy tê tê có khả năng chữa lợi sữa và tắc sữa. Theo một số cách chữa dân gian cổ truyền của Trung Quốc thì vảy tê tê có tính lạnh và mặn. Do đó nó có chức năng thúc đẩy máu, kích thích nội tiết tố và thúc đẩy tiết sữa. Nếu vú bị sưng, đau và tắc sữa thì dùng Đảng sâm bắc, rễ của chi dưa núi và Lòu Lú (một loại cây có tên khoa học là Rhaponticum thuộc họ hoa hướng dương), liều lượng vừa đủ của vảy tê tê tán bột sấy khô.

Trong trường hợp sữa ít và dần dần nhưng hẳn thì có thể tăng thêm lượng Đảng sâm bắc, rễ của chi dưa núi, đương quy để cải thiện tình hình. Ngoài ra thì nên ăn thêm cả canh chân giò heo.

Vảy tê tê chữa mụn nhọt

Đông y ghi nhận vảy tê tê có tính hàn và có tác dụng thông kinh, hoạt huyết, tiêu sưng và thay đổi nội tiết tố. Do có tính tiêu sưng và tính hàn nên cũng có khả năng giảm mụn nhọt. Nó cũng có thể trị các bệnh viêm ngoài da. Tuy nhiên vị thuốc điều trị mụn nhọt, viêm sưng được gọi là Xuyên sơn giáp không phải là vảy tê tê tự nhiên. Mà vảy còn phải qua chế biến, khử độc. Ngoài ra còn phải kết hợp với một số vị thuốc khác thì mới công hiệu. Các vị thuốc có thể kể đến như: bạch chỉ, hoàng kỳ, đương quy.

Các công dụng khác của vảy tê tê

Ngoài các công dụng trên, Đông Y cũng ghi nhận tính hoạt huyệt hóa ứ của vảy tê tê. Nghĩa là thúc đẩy sự lưu thông máu, giảm sưng và tiêu viêm.

Vảy tê tê giá bao nhiêu?

Vì được xem như “thần dược” nên hiển nhiên giá của vảy tê tê cũng cao trên trời. Thường thì giá của 1kg vảy tê tê chưa qua chế biến sẽ có giá từ 5-15 triệu tùy theo kích cỡ. Thường thì 1kg vảy sẽ có tầm 50-60 cái. Nếu mua lẻ thì 5 cái đã có giá 700.000-1.000.000VNĐ.

Còn với loại đã sơ chế (chiên) thì tầm 8 triệu/kg. Có giá trên trời như thế nhưng để lùng mua được vảy tê tê cũng không phải dễ dàng. Bạn cũng sẽ không biết bao nhiêu phần trăm vảy tê tê được mua bán trên thị trường là thật, không qua tẩm cát và muối để tăng trọng lượng và trục lợi.

Thực trạng “săn lùng” vảy tê tê ngâm rượu

Hiện nay nhiều người đồn thổi vảy tê tê ngâm rượu uống có thể chữa bách bệnh, bồi bổ cơ thể. Tuy nhiên một điều cần lưu ý là vảy tê tê tự nhiên không được xem là phương thuốc nếu chúng chưa được qua chế biến, sao cát.

Thậm chí vảy tê tê tự nhiên còn có độc. Quy trình chế biến vảy tê tê phải thật kĩ càng và cẩn thận. Vảy phải rửa sạch, phơi khô, đem đi sấy hoặc sao cát thì sau đó mới có thể được gọi là Xuyên sơn giáp. Chứ không phải cứ vảy tê tê đem đi ngâm rượu là tốt nhất. Chưa kể không ai có thể khẳng định vảy tê tê sau khi mang đi ngâm rượu liệu có còn giữ được những đặc tính tốt ban đầu của nó nữa hay không thì không ai dám khẳng định.

Thực trạng săn lùng vảy tê tê ngâm rượu

Vảy tê tê đúng là có một số đặc tính mà khi kết hợp cùng các loại thuốc đông y khác thì sẽ mang lại kết quả bất ngờ. Điều này hiệu quả cho một vài chứng bệnh hay hiện tượng như tắc sữa ở bà bầu. Tuy nhiên cũng phải nhìn nhận khía cạnh khoa học của nó. Bạn nên nắm rõ các đặc tính của vảy tê tê. Từ đó bạn sẽ không bị những phương thuốc truyền miệng gây tiền mất tật mang. Tuyệt đối không nên tin về những lời đồn thổi về tác dụng “thần thánh” của vảy tê tê. Việc đó có thể đẩy tê tê vào thực trạng bị khai thác đến mức cạn kiệt.

Xem thêm đại gia đốt tiền vì tin tưởng vảy tê tê chữa bách bệnh trên báo Vietnamnet.

Mong rằng bài viết trên đã giúp bạn trả lời câu hỏi ” Vảy tê tê chữa bệnh gì?”. Chúc bạn sẽ luôn là khách hàng thông thái, luôn luôn cảnh giác trước những lời truyền miệng thiếu căn cứ.

Tê Tê Là Con Gì? Tác Dụng Của Vảy Tê Tê?

Tê tê là một loài động vật sống hoang dã, toàn thân và đuôi phủ một lớp sừng xếp thành nhiều hàng như ngói lợp, có thể cuộn tròn lại khi gặp nguy hiểm.

* Xin cho biết tác dụng của vảy trút trong thuốc chữa bệnh cho con người? Có phải vì có tác dụng tốt hay sao mà giá bán đắt? 1kg vảy của con trút có giá tới 15.000.000đ!

Trần Trọng Ninh (!?)

Một cặp tê tê mẹ con, vảy tê tê sếp thành nhiều hàng như lợp ngói.

Tê tê còn gọi là con trút (tên gọi dân dã ở miền Trung và miền Nam), người Ba Na ở Tây Nguyên gọi là Prên pui. Tên khoa học là Manis pentadactyla (tê tê vàng, chủ yếu là miền Bắc). Còn một loài tê tê nữa ít gặp hơn có tên khoa học là Manis javanica (tê tê Java, sinh sống ở miền Nam trở ra đến vùng Quảng Nam).

Tê tê là một loài động vật sống hoang dã có đặc điểm dễ nhận là toàn thân và đuôi (trừ bụng) phủ một lớp sừng gọi là vảy, vảy tê tê xếp thành nhiều hàng như ngói lợp, có thể cuộn tròn lại khi gặp nguy hiểm. Ở hầu hết các tỉnh vùng núi và trung du miền Bắc, các tỉnh Tây Nguyên, miền Trung và ĐBSCL đều có tê tê. Hằng năm, vào khoảng tháng 5- 11, người ta lùng bắt tê tê để lấy thịt ăn và vảy làm thuốc. Khi bắt được tê tê (dù còn sống hay đã chết), phải cho ngay vào nồi nước, luộc chín hoặc ngâm con vật trong nước vôi trong, da thịt sẽ mềm ra, rồi mới rút lấy vảy.

Để lấy vảy tê tê, có khi người ta đập chết tê tê, lột lấy cả tấm da còn nguyên vảy, phơi khô; khi dùng mới rút từng chiếc vảy và chế biến. Nhiều người cho rằng, vảy ở đuôi tê tê có tác dụng mạnh hơn, do đó khi thu hoạch và chế biến, cần để riêng. Loại vảy rời từng chiếc một đã khô thuộc loại 1, vảy còn dính trên tấm da là loại 2. Thịt tê tê ít được dùng làm thuốc, thường chế biến thành những món ăn ngon và lạ miệng.

Ở Trung Quốc, thịt tê tê ninh nhừ, thêm muối, ăn để chữa bệnh viêm da dị ứng, phối hợp với xuyên khung và đương quy giúp tăng tiết sữa. Vảy, bộ phận dùng quý nhất của tê tê, là những mảnh dẹp phẳng, to nhỏ không đều, hình tam giác hoặc hình thuẫn, góc tròn, dày lên ở giữa, quanh mép mỏng. Mặt trên màu nâu xám hoặc đen hơi xanh, nhẵn bóng, có những đường vân dọc rất sít nhau và những đường vân ngang thưa hơn theo rìa mép. Mặt dưới màu nhạt hơn, không bóng, có một đường ngang hình cung hằn lên ở chính giữa. Chất cứng như sừng, hơi trong, khó bẻ gãy.

Dược liệu trên ít được dùng sống mà thường ngâm với nước vôi loãng (10 vôi tôi với 3 lít nước) rồi phơi khô, sau đó sao với cát cho phồng lên và vàng đều. Hoặc sao cát xong, khi vảy còn nóng, đổ ngay vào giấm với tỷ lệ 500 ml giấm cho 1kg vảy, khuấy đều, vớt ra, rửa lại bằng nước sạch, rồi phơi khô. Có khi còn đem vảy tẩm mỡ hoặc dầu ăn mà rán hoặc đốt vảy thành than tồn tính mà dùng.

Trong y học cổ truyền, vảy tê tê có tên thuốc là xuyên sơn giáp, vị mặn, mùi hơi tanh, tính hơi lạnh, không độc, vào 2 kinh can và vị, có tác dụng giải độc, tiêu viêm, giảm đau, sát khuẩn, giảm sốt, lợi sữa. Tuy nhiên, người ta đã đồn đại sai lạc là vẩy tê tê, máu tê tê chữa được mọi bệnh nan y, kể cả bệnh ung thư. Chính vì vậy người ta đua nhau săn lùng tê tê và nâng giá lên quá mức.

Theo nhìn nhận của Chi cục Kiểm lâm TP. Hồ Chí Minh, thực chất những lời đồn đại trên có thể bắt nguồn từ phường buôn động vật hoang dã. Chúng đơm đặt thái quá nhằm nâng giá trị của con vật. Càng có nhiều người “thần tượng” tê tê thì loài này càng lên giá, giá thị trường mỗi con tê tê lên đến hơn 10 triệu đồng trong khi mua tại rừng từ cánh phường săn chỉ chưa đến 2 triệu đồng. Chính lợi nhuận kếch xù ấy đã thúc đẩy cánh phường săn, dân buôn tích cực săn lùng, phịa đủ thứ chuyện ly kỳ về sức mạnh của loài tê tê để dễ bề dụ khách.

Sách đỏ Việt Nam xếp tê tê vào nhóm V (nhóm động vật nguy cấp, có nguy cơ tuyệt chủng). Nguyên nhân vì chúng bị săn bắt nhiều để làm thuốc hoặc buôn bán qua biên giới. Để bảo vệ tê tê, Sách đỏ Việt Nam đề nghị cấm săn bắt, buôn bán tê tê và vảy của chúng…

gs.ts nguyễn lân dũng

Vảy Tê Tê – Cách Dùng, Tác Dụng Chữa Bệnh Của Xuyên Sơn Giáp

Tên khoa học

Manis pentadactyla L. Họ Tê tê (Manidae).

Mô tả

Thú có thân dài 50 – 65cm, kể cả đuôi, nặng 5 – 7kg, có khi hơn. Đầu thuôn nhỏ, mõm nhọn, lưỡi rất dài, cổ to, lưng vồng lên, bụng phẳng, đuôi thuôn nhọn. Bốn chân to và ngắn, có vuốt dài và cong. Toàn thân, đuôi và chân phủ những vảy sừng xếp thành hàng như ngói lợp, màu nâu xám. vảy sừng to nhỏ không đều, hình tam giác, dày, mép mỏng.

Phân bố, nơi sống

Trên thế giới, tê tê phân bố ở châu Á bao gồm các nước Ấn Độ, Nêpan, Trung Quốc, một số nước Đông Nam Á.

Ở Việt Nam, tê tê sống hoang ở nhiều nơi vùng rừng núi từ Lai Châu, Sơn La, Lạng Sơn qua các tỉnh miền Trung, sang Tây Nguyên rồi vào vùng đồng bằng sông Cửu Long. Nơi ở của tê tê là các hang đất, hốc cây. Khi cần có thể leo cây hoặc lội nước. Kiếm mồi vào ban đêm. Ăn kiến, mối và một số côn trùng khác bằng cách thè lưỡi, huơ đi huơ lại giữa đám mồi cho côn trùng dính vào hoặc giương lớp vảy bẫy cho côn trùng chui vào, rồi khép lại.

Tê tê thường cuộn tròn lại khi ngủ hoặc gặp nguy hiểm. Bản tính hiền lành, chậm chạp nhưng lại khỏe vô cùng, vì khi con vật đã chui vào hang, nó giương toàn bộ lớp vảy sừng cắm vào vách hang thì dù con người có tóm được đuôi nó cũng không thể kéo nó ra khỏi hang được.

Tê tê đẻ 1 con vào tháng 1-3.

Nhiều nơi đã bắt đầu thuần hóa và phát triển nuôi tê tê để xóa đói, giảm nghèo, làm kinh tế gia đình.

Bộ phận dùng, thu hoạch, chế biến

Vảy Tê tê.

Bắt được tê tê, nếu còn sống thì đập chết, mổ bụng lột lấy da, còn nguyên vảy, phơi khô. Cũng có thể ngâm tê tê vào nước vôi trong hoặc luộc chín, rồi lấy vảy, phơi khô. Nên để riêng vảy ở đuôi tê tê, vì người ta cho rằng vảy này có tác dụng mạnh hơn.

Chế biến Vảy Tê tê: Ngâm vảy trong nước vôi loãng khoảng 10 – 20 phút, lấy ra, phơi khô. Sao với cát cho phồng và vàng đều. Cũng có thể sao cát xong, lúc vảy còn nóng, đổ vào dung dịch giấm với tỷ lệ 500ml giấm cho 1kg vảy. Đảo đều cho vảy thấm đẫm rồi vớt ra, rửa bằng nước sạch, phơi khô.

Có khi còn tẩm mỡ hoặc dầu ăn vào vảy mà rán.

Phân biệt tính chất, đặc điểm:

Vị thuốc này phần nhiều đều được bao chế qua giấm, sao tẩm xong có màu vàng kim hoặc màu trắng vàng. Đó là những miếng phẳng bẹt có hình cánh quạt, hình tam giác, hình miếng trám hoặc hình lá chắn, ở giữa dày, chung quanh mỏng hơn, lớn bé không đều nhau. Bề mặt màu be đen hoặc be vàng, có ánh quang, phía chiều rộng có hàng chục nếp vân dọc và vân ngang xếp thứ tự ngay ngắn; Phía hẹp trơn bóng. Mặt bên trong màu nhạt hơn, ở chính giữa có một đường hình vòng cung nổi gồ lên theo hướng hình thoi nằm ngang, dưới đó có mấy đường vân nhỏ chạy song song với đường hình thoi. Chất sừng, nửa trong suốt, rắn, dai mà có tính đàn hồi, không dễ bẻ gẫy. Loại nào các miếng vảy có màu đen nâu hoặc màu vàng nâu, không sót da hoặc thịt trong vảy là loại tốt.

Tính vị và công hiệu:

Vị thuốc này tính hơi hàn, vị mặn, lợi về kinh can, vị. Có công hiệu thông kinh, xuống sữa, tiêu sưng trừ mủ, thông phong, thông các mạch dây thần kinh. Dùng cho người phong hàn, tê thấp, u sưng, nhọt độc, tắc tia sữa v.v…

Bảo quản:

Để nơi khô ráo, thoáng gió.

Công dụng và liều dùng

Vảy Tê tê được dùng trong y học cổ truyền với tên thuốc là Vảy Tê tê. Dược liệu có vị mặn, mùi hơi tanh, tính hơi lạnh, có tác dụng lợi sữa, tiêu viêm, giảm đau, giải độc, chữa tắc tia sữa. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 4 – 6g, dưới dạng bột.

Dùng ngoài, Vảy Tê tê đốt tồn tính, tán nhỏ, rắc vết thương để cầm máu, thổi vào tai chữa viêm tai.

Bài thuốc

Chữa ít sữa: Vảy Tê tê (15g), lõi thông thảo (10g), cắt nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày.

Chữa sốt rét: Vảy Tê tê (40g), hạt gấc (40g, đập vỡ vỏ, lấy nhân). Sấy khô, tán nhỏ, rây bột mịn. Ngày uống hai lần, mỗi lần 12g với rượu vào lúc đói. (Nam dược thần hiệu).

Chữa rắn cắn: Vảy Tê tê (5g), hà thủ ô đỏ (10g), bối mẫu (10g), bạch đậu (6g), quế chi (10g), hùng hoàng (5g), bạch chỉ (6g), bán hạ chế (6g), ngũ linh chi (5g). Tất cả ngâm với 1 lít nước cất và nửa lít cồn 90°.

Khi bị rắn cắn, uống 5 – 10ml mỗi ngày. Dùng vài ngày.

Ghi chú: Trong thiên nhiên, tê tê bị săn bắt nhiều nên số lượng đã giảm và nó đã được ghi vào Sách Đỏ quốc gia để bảo vệ.

Những cấm kỵ khi dùng thuốc:

Vị thuốc này có nhược điểm là hao khí thương huyết, người bị hư nhược nên thận trọng khi dùng hoặc kiêng dùng, người ung thư đã lở loét khi dùng cần thận trọng, loét lâu không thu miệng kiêng không dùng.

Các bài thuốc bổ dưỡng thường dùng:

Xuyên sơn giáp đồn trư đề (Vảy Tê tê hầm chân giò)

Vảy Tê tê 30g

Vương bất lưu hành 15g

Chân giò 1 đôi

Hai vị thuốc trên rửa sạch, đựng trong túi vải mỏng, hầm chung với chân giò cho tới khi chân giò chín nhừ. Trước khi ăn pha chế thêm gừng, hành, muối ăn. Uống thang, ăn thịt.

Dùng cho phụ nữ sau khi đẻ bị thiếu sữa và tắc sữa.

Thâu kinh giải luyên phương (Bài thuốc thông kinh mạch, chống co gân)

Vảy Tê tê 9g – Tô mộc 9g

Đương qui 9g – Xuyên khung 5g

Thiên ma 9g

Sắc 2 nước, trộn lẫn, uống ngày 1 thang chia 2 lần.

Bai thuốc nay hoạt huyết, hoà tan sự tích tụ, thông kinh giảm đau.

Dùng cho người bị phong han tê thâp cản trở kmh mạch, khí huyết ngưng trệ dẫn tới viêm đau khớp, co duỗi khó khăn v.v…

Tiên phương hoạt mệnh ẩm (Bài thuốc tiên vì mạng sống)

Vảy Tê tê 10g – Song hoa 10g

Hoa phấn 10g – Bối mẫu 5g

Bạch chỉ 10g

Sắc 2 nước, trộn lẫn, uống ngày 1 thang chia 2 lần.

Bài thuốc này có thể làm tiêu ung thư, chữa trĩ lậu, tẩy hết máu mủ, phục hồi những chỗ thịt thối rữa. Phàm những bệnh ung loét, nhọt bọc, ung vú, nhọt đầu đinh, phụ cốt âm thư, trĩ lậu tràng ung v.v… đều có thể sử dụng nó. Người mới bị, có thể tiêu sưng giảm đau, làm cho nó tự tiêu đi, nếu đã bị loét, có thể trừ mủ, hoá những chỗ rữa nát, làm cho nó sớm thu miệng.

Sự Thật Đằng Sau Câu Chuyện: Vảy Tê Tê Chữa Tắc Sữa

Tìm kiếm từ khóa “vảy tê tê chữa tắc sữa” các mẹ không lạ lùng gì nếu đọc được những thông tin ca tụng vảy tê tê như “thần dược” chữa bệnh. Bên cạnh đó là những mức giá bán vảy tê tê “trên trời” nhưng vẫn có rất nhiều mẹ “đầu tư” vào. Vậy khoản “đầu tư” đó có xứng đáng không hay các mẹ đang tiếp tay cho việc giết hạn những con tê tê vô tội. 

Vảy tê tê chữa tắc sữa được nhiều mẹ hưởng ứng trên mạng xã hội

Bước chân vào một vài group trên facebook hoặc website cho mẹ và bé trên mạng. Mẹ sẽ tìm được những bài viết từ các mẹ hỏi về các vấn đề như :

Chữa tắc tia sữa bằng vảy tê tê có đúng không?

“ Dùng vảy tê tê có lợi sữa không các mom? ”

“ Các chị em cho em hỏi, dùng vảy tê tê như thế nào để sữa về nhanh nhất. 

Em bị mất sữa 2 hôm rồi ”.

Tiếp theo đó là một loạt những câu trả lời, và tư vấn rất nhiệt tình cho các mẹ như:

“Em ơi, chị dùng vảy tê tê rồi, sữa về phun ướt áo luôn…”

Rồi cả những bí quyết về cách nấu cháo từ vảy tê tê chưa từng được công bố trước đó cũng được các mẹ lấy ra bàn rôm rả. Và một niềm tin không hề nhỏ được đặt vào loại “thần dược” này sẽ giúp các mẹ chữa tắc tia sữa, lợi sữa hơn. 

Đúng như vậy theo một nghiên cứu gần đây nhất tại Việt Nam, có đến 20% người dân tin rằng vảy tê tê có tác dụng chữa bệnh, hơn 60% đang phân vân không rõ công dụng của loại vảy này. Và chỉ có 8% dân số tin rằng vảy tê tê không có tác dụng chữa bệnh tắc tia sữa như lời đồn. Vậy vảy tê tê chữa tắc tia sữa được hay không ?

Giải đáp thắc mắc vảy tê tê chữa tắc sữa? Theo y học cổ truyền:

Vảy tê tê có tác dụng giải độc, tiêu viêm, giảm đau và lợi sữa

Vảy tê tê (hay còn gọi là xuyên sơn giáp) có vị mặn, mùi hơi tanh, tính hơi lạnh, không độc có tác dụng giải độc tiêu viêm, giảm đau, lợi sữa. Vì thế tác dụng chính là vảy tê tê chữa tắc sữa, và chữa vài vết lở loét. Nhưng những công dụng trên cũng dựa từ những lời truyền miệng từ xưa để lại, còn trên thực tế chưa có nghiên cứu nào khẳng định khả công dụng vảy tê tê khi điều trị những triệu chứng trên, đặc biệt là các bệnh nan y như lời đồn. 

Bên cạnh đó, y học cổ truyền cũng nhận định để chữa tắc tia sữa có rất nhiều phương pháp khác hiệu quả hơn rất nhiều như bồ công anh, đinh lăng, bạch truật…. Ngoài ra thì vảy tê tê không được ghi nhận trị thêm bất cứ loại bệnh nào hay tốt cho bé. Vì vậy việc các mẹ bỏ tiền triệu ra để mua vảy tê tê là không cần thiết. 

Theo y học hiện đại: 

Vảy tê tê được cấu tạo từ chất keratin, một chất tương tư để cấu tạo lên móng tay, chân người hay sừng và lông của những động vật có vú. Cũng chính vì vậy mà trong y học hiện đại chưa bao giờ sử dụng vảy tê tê để điều trị bất cứ một căn bệnh nào. 

Vảy tê tê được cấu tạo từ chất keratin, chất tương tự cấu tạo lên móng tay

Hàng nghìn chú tê tê bị giết hại vô tội vì sự thiếu hiểu biết của các mẹ

Công dụng chữa bệnh mập mờ nhưng hàng năm đang có hàng nghìn chú tê tê bị hại. Theo thống kê, Việt Nam là nước có lượng tiêu thụ tê tê cao hàng đầu trên thế giới, theo sau là Trung Quốc. 

Tại Việt Nam có 2 loài tê tê sinh sống đó là tê tê vàng và tê tê Java. Trong khi tê tê là một loại không có nguy cơ xâm hại từ bất cứ con vật nào khác những hiện nay đang được cho vào sách đỏ bởi nguy cơ tuyệt chủng rất cao. 

Vậy các mẹ sau khi bỏ ra 15 triệu/ cân vảy tê tê chỉ để chữa tắc tia sữa cùng với đó là gián tiếp giết hại rất nhiều chú tê tê thì mẹ cảm thấy như vậy có đáng không ?

Your browser doesn’t support iframes

Vảy Tê Tê Chữa Được Ung Thư, Tăng Cường Sinh Lý Nam Giới?

Những con tê tê đứng trước nguy cơ tuyệt chủng do đồn thổi có tác dụng tăng cường bản lĩnh đàn ông.

Tê tê hay còn gọi trút, xuyên sơn là loài động vật có vú thuộc Bộ tê tê (Pholidota). Tê tê sống ở những vùng rừng núi hoang dã của Việt Nam, miền Nam Trung Quốc (Phức Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Đài Loan), Miến Điện, Ấn Độ, châu Phi…

Tê tê có móng vuốt lớn và dài cho phép chúng đào thành các hốc trong thân cây lớn hay đào hang dưới lòng đất để trú ngụ.

Bộ phận dùng quan trọng nhất của tê tê là hệ thống vảy. Khoảng 20% trọng lượng của một con tê tê là khối lượng vảy. Khi mới sinh ra, vảy tê tê mềm nhưng theo thời gian sẽ cứng như sừng, hơi trong, khó bẻ gãy. Vảy tê tê mọc suốt cuộc đời giống như lông, có hình tam giác hay hình thuẫn (giống mảnh vỏ trai).

Bác sĩ Lê Hùng, Chủ tịch Hội Đông y và Châm cứu TP HCM cho biết: “Vảy tê tê phải qua chế biến mới thành vị thuốc xuyên sơn giáp, ít khi dùng sống. Quá trình chế biến không đơn giản, trước tiên phải nhúng tê tê vào trong nước sôi để lấy vảy ra, sau đó sao với cát ở một nhiệt độ nhất định để vảy phồng lên có màu mới hết độc chất”.

Vảy tê tê có giá rất cao nhưng thực chất chỉ được cấu tạo bằng chất keratin như móng tay con người.

Vảy tê tê có vị mặn – tính hàn – có độc; Quy kinh: Can – vị. Tác dụng: hoạt huyết – thông kinh – khử ứ – tiêu thủng – bài nùng. Chủ trị các bệnh tắt tia sữa, ít sữa, kinh bế, ung nhọt, loa lịch, phong tê thấp, sốt rét do đàm tích, bệnh lý ngoài da.

Theo bác sĩ Hùng, cho tới nay tác dụng chữa bệnh thông thường của vảy tê tê theo Y học cổ truyền vẫn dựa vào những hướng dẫn trong các y văn cổ. Chưa có công trình khoa học nào xác định chính xác tính hiệu quả của những tác dụng này. Tuy nhiên, thời gian qua nhiều người đồn thổi vảy tê tê có tác dụng điều trị bệnh đái tháo đường; tăng cường sinh lực, tăng cường ham muốn và sức mạnh tình dục cho nam giới; điều trị bệnh ung thư…

Thực tế, theo y học hiện đại, vảy tê tê cấu tạo bằng chất keratin giống như móng tay con người hay móng vuốt, sừng và lông các động vật có vú khác. Y học hiện đại chưa bao giờ sử dụng vảy tê tê để điều trị bất cứ một chứng bệnh nào.

Những tác dụng đồn thổi

Ăn bào thai tê tê tăng cường sinh lý nam hay chữa tắc tia sữa chỉ là đồn thổi.

Cùng chung quan điểm trên, chúng tôi Nguyễn Thị Bay – Nguyên Trưởng khoa y học cổ truyền (Bệnh viện Đại học Y dược TP HCM) cho biết: “Vảy tê tê là dược liệu làm thuốc đông y, có tồn tại trong các sách từ xa xưa nhưng chỉ thuần túy đứng trên kinh nghiệm, chưa có một nghiên cứu khoa học chứng minh vảy loài động vật này có tác dụng như đồn thổi.

Trong trường đại học sinh viên y khoa không được học về việc dùng vảy tê tê làm thuốc. Do đó, những thầy thuốc được học chính quy bài bản cũng không sử dụng vảy tê tê chữa bệnh mà thay bằng các bài thuốc – vị thuốc khác”.

“Đông y ghi nhận vảy tê tê tính hàn, vị mặn có tác dụng dược lý điều trị mụn nhọt chưa vỡ mủ nhưng đây là ung nhọt ngoài da do viêm da khác hoàn toàn với ung thư như nhiều người lầm tưởng”, PGS Bay nói.

Hơn nữa, vảy tê tê còn được đồn thổi như thuốc quý nên giá bán lên tới hàng chục triệu/kg, nhiều người mua muốn chứng tỏ vị trí xã hội hay năng lực tài chính nên mua tặng lẫn nhau. Do đó nguy cơ tuyệt chủng loài vật này vô cùng cao.

Các bài thuốc kinh nghiệm:

– Trị tắt tia sữa:

Vảy tê tê 8g + lõi thông thảo 6g

Vảy tê tê 12g + thiên hoa phấn 12g

Vảy tê tê 10g + vương bất lưu hành 10g

Xuyên sơn giáp 10g + Bạch chỉ 5g + tạo giác thích 8g + hoàng kỳ 6g + đương duy 6g

Các vị thuốc thay thế:

– Trị tắt tia sữa:

Cây lức (Cúc tần, Từ bi) 16 – 20g

Bồ công anh (20 – 30g) uống trong, và giã nát đắp ngoài

Lức 16g + Thông thảo 12g + Ngải cứu 12g

Bồ công anh 16g + Kim ngân hoa 12g + Thương nhĩ tử 16g